
Ảnh minh họa
Năm 2026, Việt Nam lọt top 50 quốc gia và nền kinh tế dẫn đầu về chỉ số ĐMST, tăng một bậc so với năm 2025. Tính từ năm 2016 đến năm 2026, thứ hạng của Việt Nam đã cải thiện 16 bậc, từ vị trí 59 lên vị trí 43.
Xét theo hai nhóm chỉ số chính, Việt Nam xếp thứ 54 về đầu vào ĐMST. Đầu vào ĐMST gồm 5 trụ cột: Thể chế, Nguồn nhân lực và nghiên cứu, Cơ sở hạ tầng, Trình độ phát triển của thị trường và Trình độ phát triển của doanh nghiệp.
Công an phát thông báo nóng tới toàn bộ người dân đang bật mạng di động 4G/5G liên tục 24/7Trong khi đó, đầu ra ĐMST của Việt Nam tăng 2 bậc, từ vị trí 37 lên 35. Nhóm này gồm hai trụ cột là Sản phẩm tri thức và công nghệ, Sản phẩm sáng tạo. Kết quả cho thấy Việt Nam tiếp tục có thứ hạng đầu ra tốt hơn đầu vào, phản ánh khả năng chuyển hóa các nguồn lực đổi mới sáng tạo thành kết quả thực tế.
Cùng với đó, Việt Nam duy trì vị trí thứ 2 trong nhóm 36 quốc gia và nền kinh tế có thu nhập trung bình thấp, sau Ấn Độ, quốc gia xếp thứ 38 trên bảng xếp hạng chung.
Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đứng thứ ba, sau Singapore và Malaysia, đồng thời xếp trên Thái Lan, quốc gia đứng thứ 44 toàn cầu. Đây là kết quả đáng chú ý trong bối cảnh các nền kinh tế ASEAN đang cạnh tranh để nâng cao năng lực công nghệ, phát triển sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Báo cáo GII 2026 ghi nhận Việt Nam là một trong 7 nền kinh tế thu nhập trung bình có sự cải thiện thứ hạng nhanh nhất kể từ năm 2013, cùng với Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Philippines, Morocco và Indonesia. Nhóm này đã có những bước tiến đáng kể nhờ xây dựng các doanh nghiệp, ngành sản xuất và mạng lưới cung ứng có khả năng chuyển hóa lợi thế thành kết quả ĐMST.
Việt Nam và Ấn Độ là hai nền kinh tế duy trì thành tích đổi mới sáng tạo vượt kỳ vọng so với trình độ phát triển lâu nhất trong 16 năm liên tiếp. Điều đó cho thấy hiệu quả tương đối trong việc chuyển hóa nguồn lực đầu vào thành đầu ra đổi mới sáng tạo, dù chất lượng và chiều sâu của hệ sinh thái nghiên cứu trong nước vẫn là những vấn đề cần tiếp tục cải thiện.
Đặc biệt, trong các chỉ số thành phần, Việt Nam xếp số một thế giới cùng Malaysia về xuất khẩu công nghệ cao, chiếm 36,6% tổng thương mại. Trong khi đó, Singapore (chiếm 25,8%, xếp thứ 3 thế giới), Trung Quốc (chiếm 23,26%, xếp thứ 7 thế giới), Đức (chiếm 14,18%, xếp thứ 12 thế giới), Mỹ (chiếm 10,53%, xếp thứ 20 thế giới)…
Những thứ hạng này cho thấy thế mạnh nổi bật của Việt Nam nằm ở hoạt động sản xuất, thương mại và khả năng tham gia các mạng lưới cung ứng quốc tế. Tuy nhiên, vị trí cao trong xuất khẩu công nghệ cao không đồng nghĩa toàn bộ công nghệ, thiết kế hay hoạt động nghiên cứu tạo ra sản phẩm đều có nguồn gốc trong nước. Theo phân tích của WIPO, bước tiếp theo của Việt Nam là tiến lên các khâu có giá trị gia tăng cao hơn, thông qua mở rộng năng lực nghiên cứu nội địa, đăng ký sáng chế và tạo ra tri thức.
Ở cấp độ khu vực, các nền kinh tế ASEAN có những lợi thế khác nhau trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Singapore nổi bật về môi trường đầu vào đổi mới sáng tạo; Malaysia có thế mạnh trong sản xuất công nghệ cao, đứng thứ 17 thế giới ở chỉ số này; Philippines nổi bật về xuất khẩu dịch vụ công nghệ thông tin và truyền thông, xếp thứ 18 toàn cầu. Việt Nam có thế mạnh về xuất khẩu công nghệ cao, hàng hóa sáng tạo và phát triển ứng dụng di động.





Hoặc