
Ảnh minh họa
Mới đây, Lễ vinh danh FChoice 2025 và Hội thảo "Động lực tăng trưởng kinh tế 2 chữ số và Cơ hội đầu tư năm 2026" đã diễn ra. Tại sự kiện, ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch HĐQT FiinGroup và FiinRatings trình bày tham luận với Chủ đề: Triển vọng kinh tế 2026 và các kênh huy động vốn cho tăng trưởng. Làm thế nào tăng trưởng 2 chữ số bền vững?
Ông điểm qua một số đánh giá FiinRating về tăng trưởng hiện tại của Việt Nam, những gì còn thiếu và làm thế nào để đạt được tăng trưởng hai con số một cách bền vững?
Năm 2025, tăng trưởng chủ yếu đến từ đầu tư, Việt Nam vẫn là một nền kinh tế tăng trưởng chủ yếu vào đầu tư. Năm vừa rồi, đầu tư công đóng góp 30% và FDI cũng rất cao. Hai nguồn tăng trưởng này chủ yếu bằng tiền, trực tiếp vào GDP. Tuy nhiên, đầu tư của khu vực tư nhân còn rất yếu, và cầu tiêu dùng cũng rất yếu.
Cùng với đó, đầu tư trong nước chỉ tăng 8,4%, đây là một con số đáng lo ngại, còn đầu tư công góp 30% và khu vực FDI đóng góp rất tốt. Cầu tiêu dùng vẫn còn yếu, với mức tăng 6% ở Việt Nam được coi là bi quan. Quan điểm của ông Thuân là khi nào thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tiệm cận 10.000 USD thì mới có của ăn của để, cầu tiêu dùng mới bứt phá mạnh mẽ.
Trong 3-6 năm tới, nền kinh tế Việt Nam vẫn sẽ tăng trưởng dựa trên đầu tư. Và vấn đề đầu tiên của đầu tư là tiền đâu? Mặc dù có những chiến lược tham vọng lớn, nhưng người làm phân tích tài chính sẽ thấy rằng, ngoài việc tăng năng suất, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chúng ta phải có đủ vốn, đặc biệt là vốn đầu tư dài hạn.
Thông điệp của ông Thuân rất ngắn gọn: chúng ta có những ước mơ lớn, nhưng cần tái định hình lại chiến lược để khai mở các nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là từ tư nhân. Tư nhân ở đây không chỉ là doanh nghiệp tư nhân mà còn bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước. Nếu các dự án hiện tại chỉ là ước mơ lớn mà không thuyết phục được về mặt tài chính, hoặc cố gắng thực hiện thì rủi ro sẽ rất lớn và tính bền vững rất thấp.
Mặc dù thiếu vốn dài hạn, nhưng Việt Nam vẫn phát triển được nhờ việc sử dụng vốn ngắn hạn của hệ thống ngân hàng để tài trợ cho dài hạn. Điều này đã rất rõ trong ngành năng lượng tái tạo, nơi nhiều doanh nghiệp có mô hình tốt nhưng thiếu vốn dài hạn nên vỡ nợ. Đây là bài học quan trọng cho tương lai.
Nếu nhìn lại, hai nguồn vốn chiến lược hiện tại là đầu tư công và vốn ngân hàng đang là chủ đạo. Ông khẳng định rằng dư địa của chúng sẽ không còn nhiều. Dù vốn đầu tư công được ưu tiên giải ngân, giá trị công trình sẽ không tăng gấp đôi ngay lập tức. FiinRatings hy vọng việc đẩy mạnh không chỉ vào giao thông hạ tầng mà còn vào các ngành hợp tác với tư nhân thông qua PPP (hợp tác công tư) hoặc tái tài trợ. Kênh vốn chiến lược ông đề cập ở đây chính là vốn từ tư nhân, vốn cổ phần và vốn vay ngoại tệ từ nước ngoài.
Cùng bàn về bức tranh kinh tế năm 2025, TS. Võ Trí Thành cho rằng Việt Nam rút ra được một bài học quan trọng: dư địa chính sách tài khóa vẫn còn, với nợ công ở mức thấp (dưới 36% GDP), cho phép tiếp tục sử dụng đầu tư công làm đòn bẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, Việt Nam không thể duy trì mãi mức tăng trưởng tín dụng quá cao, khi tỷ lệ tín dụng/GDP hiện đã lên tới 140–150%, vượt xa ngưỡng an toàn thông thường khoảng 120%.
Từ đó, yêu cầu đặt ra là phải phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa và tiền tệ, nhằm vừa tạo dư địa, vừa đảm bảo tính linh hoạt và khả năng tích hợp của toàn bộ hệ thống chính sách.
Một điểm đáng chú ý khác là dù tăng trưởng tương đối tốt, nguồn lực trong nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa được khai thác hết. Hiện nay, tỷ lệ tiết kiệm lên tới khoảng 37% GDP, trong khi tỷ lệ đầu tư chỉ đạt 32–33% GDP, trong đó có một phần đáng kể là vốn đầu tư nước ngoài. Điều này cho thấy một lượng lớn tiết kiệm của người dân đang nằm trong bất động sản, vàng, USD, Bitcoin và các kênh tài chính khác.
Theo các tính toán, để tăng trưởng bền vững, tỷ lệ đầu tư cần đạt khoảng 37–38% GDP, trong khi hiện nay Việt Nam chỉ trên dưới 33%. Điều đó cũng đồng nghĩa, dư địa phát triển của Việt Nam vẫn còn rất lớn, nếu khai thông được dòng vốn và chuyển hóa hiệu quả nguồn tiết kiệm trong xã hội thành đầu tư cho tăng trưởng dài hạn.





Hoặc